Bệnh loạn thần hưng trầm cảm là gì?

0
Cập nhật lần cuối

Có thể nhiều người còn khá xa lạ với khái niệm loạn thần hưng trầm cảm. Vậy để biết bệnh loạn thần hưng trầm cảm là gì, bạn có thể tham khảo trong bài viết dưới đây.

Khái niệm ban đầu về loạn thần hưng trầm cảm được sử dụng chủ yếu hiện nay như một từ đồng nghĩa với rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

1. Các quan niệm khác nhau về bệnh loạn thần hưng trầm cảm

Từ thời thượng cổ Hypocrate đã mô tả hai trạng thái hưng cảm và trầm cảm, sau Hypocrate nhiều tác giả đã nó lên mối liên quan giữa 2 trạng thái này. Đến năm 1899, Kraepelin (Đức) mô tả đầy đủ bệnh này và đề nghị đặt tên là PMD (Psychose Maniaco Deressve). Tuy nhiên, khuynh hướng chung của các nhà tâm thần học hiện đại là thu hẹp bệnh này lại theo những tiêu chuẩn chặt chẽ sau đây:

  • Các trạng thái hưng cảm và trầm cảm xuất hiện tự phát và chiếm vị trí trung tâm trong bệnh cảnh, thời gian có thể kéo dài nhưng vẫn có giới hạn rõ rệt.
  • Các trạng thái bệnh lý không dựa đến dị tật tâm thần mặc dù tái phát nhiều lần, giai đoạn thuyên giảm giữa cơn trở lại gần như bình thường.
  • Trạng thái hưng cảm và trầm cảm có thể xen kẽ nhau hay không xen kẽ nhau.
  • Rối loạn khí sắc phải nổi bật lên hàng đầu, giới hạn rõ rệt trong một thời gian, không kèm theo những triệu chứng của quá trình thực thể hay phân liệt.

Còn Theo ICD.10 rối loạn cảm xúc lưỡng cực (F31 Bipolar affective Desorder): là những giai đoạn lặp đi lặp lại (ít nhất là 2 lần) trong các mức độ khí sắc và hoạt động của bệnh nhân bị rối loạn đáng kể. Trong một số trường hợp rối loạn biểu hiện bằng tăng khí sắc tăng năng lượng và tăng hoạt động hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ và trong một số trường hợp khác là tự hạ thấp khí sắc giảm năng lượng và giảm hoạt động (trầm cảm).

2. Triệu chứng của bệnh loạn thần hưng trầm cảm

Trầm cảm

Một giai đoạn trầm cảm theo ICD.10 (Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10), dù ở mức độ nặng, vừa hay nhẹ một giai đoạn trầm cảm phải có những biểu hiện đặc trưng sau:

  • Khí sắc trầm.
  • Mất mọi quan tâm thích thú.
  • Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi, dù chỉ một cố gắng nhỏ.

Thường có những triệu chứng phổ biến khác là:

  • Giảm sự tập trung chú ý.
  • Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.
  • Có ý tưởng bị tội không xứng đáng.
  • Nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan.
  • Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát.
  • Rối loạn giấc ngủ.
  • Ăn ít ngon miệng.
  • Thể nặng thường có các triệu chứng sinh học sút cân, mất 5% trọng lượng cơ thể/1tháng.
  • Giảm dục năng, mất ngủ, thức giấc sớm.

Đối với bệnh trầm cảm nặng, hãy chú trọng tới những dấu hiệu bệnh nhân trầm cảm đang muốn tự sát

Bệnh loạn thần hưng trầm cảm là gì? 2

Hưng cảm

a. Hưng cảm nhẹ:

  • Tăng khí sắc nhẹ và dai dẳng nhiều ngày.
  • Tăng năng lượng và hoạt động.
  • Cảm giác thoải mái, làm việc có hiệu suất, dễ chan hoà, ba hoa, suồng sã, có thể cáu kỉnh, tự phụ, thô lỗ.
  • Tăng tình dục.
  • Ít ngủ (giảm nhu cầu ngủ).
  • Khả năng tập trung chú ý giảm.
  • Tiêu tiền hơi nhiều.
  • Không gián đoạn công việc.

b. Hưng cảm vừa (Hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần):

  • Khí sắc tăng cao không tương xứng với hoàn cảnh bệnh nhân.
  • Có thể thay đổi từ vui vẻ đến kích động gần như không thể kiểm tra được.
  • Tăng năng lượng, hoạt động thái quá, nói nhanh.
  • Giảm nhu cầu ngủ.
  • Mất khả năng kiềm chế xã hội thông thường.
  • Chú ý không thể duy trì được, đãng trí rõ rệt.
  • Tự cao quá mức, khuếch đại, lạc quan.
  • Đánh giá màu sắc rực rỡ đẹp nhạy cảm chủ quan về ranh giới.
  • Lao vào mưu đồ ngông cuồng, không thực tế.
  • Tiêu tiền liều lĩnh.
  • Công kích, đam mê, si tình, đùa đến không thích hợp.
  • Có thể cau có ngờ vực.
  • Thời gian ít nhất 1 tuần.
  • Gián đoạn công việc xã hội, gia đình.

c. Hưng cảm nặng

  • Khí sắc tăng quá cao.
  • Hoạt động thể lực mạnh, kéo dài dẫn đến kích động xâm phạm hoặc hung bạo.
  • Tự đánh giá quá mức dẫn đến ý tưởng tự cao dẫn đến hoang tưởng tự cao hay tôn giáo về nguồn gốc hay vai trò nổi bật. Đôi khi có hoang tưởng được bệnh nhân.
  • Tư duy phi tán, nói nhanh có thể làm cho người khác không hiểu được bệnh nhân.
  • Sao nhãng ăn uống, vệ sinh cá nhân dẫn đến mất nước.
  • Có thể có hoang tưởng hoặc ảo giác có hoặc không phù hợp với khí sắc.

3. Điều trị bệnh loạn thần hưng trầm cảm

Nguyên tắc chung

Điều trị triệu chứng: Nhằm mục đích điều trị các giai đoạn (hưng hoặc trầm). Nếu các giai đoạn nặng phải nhập viện.

  • Trầm cảm: nhập viện để phòng ngừa nguy cơ tự sát cao.
  • Hưng cảm: nhập viện để đối phó với các hậu quả do kích động gây ra

Điều trị giai đoạn trầm cảm

* Lựa chọn thuốc:

– Nếu lo âu, kích thích chiếm ưu thế thì nên dùng thuốc chống trầm cảm gây êm dịu như Amitriptyline liều từ 50-150 mg/ngày.

– Nếu tình trạng ức chế chiếm ưu thế thì dùng chống trầm cảm hoạt hoá Survector 100-250 mg/ngày hoặc chống trầm cảm trung gian Anafanil 50-150 mg/ngày.

– Nếu lo âu chiếm ưu thế dùng thuốc chống trầm cảm mới không 3 vòng, không IMAO như Prozac 20-60 mg/ngày hoặc Stablon 12,5-37,5 mg/ngày.

* Thời gian điều trị: điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thường phải được điều trị trong thời gian dài 4-6 tháng đối với trầm cảm mức độ trung bình, 6 tháng đến 1 năm đối với hội chứng trầm cảm nặng. Việc chấm dứt điều trị cần được tiến hành dần dần trong 1 đến 2 tháng.

Điều trị giai đoạn hưng cảm

1. Thuốc an thần kinh: các thuốc an thần kinh được chỉ định để điều trị cơn hưng cảm.

– Chống loạn thần và làm yên dịu:

. Aminazine 50-300 mg/ngày

. Levomepromazin 50-300 mg/ngày

. Tercian 50-300 mg/ngày

. Thioridazine 50-300 mg/ngày

– Chống loạn thần mạnh, có tác dụng tối đa đối với các loại hoang tưởng, ảo giác:

. Haloperidol 5-20 mg/ngày

Thuốc an thần kinh luôn luôn phải được điều chỉnh tùy theo sự dung nạp và hiệu quả

2. Thuốc điều chỉnh khí sắc:

– Muối Lithium: Muối Lithium có hiệu quả điều trị nhưng chỉ tác dụng sau khoảng 8 ngày sử dụng, vì vậy phải được kết hợp với một thuốc an thần kinh lúc khởi đầu. Sự kết hợp này cần phải có sự theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng chặt chẽ, đặc biệt phải theo dõi nồng độ tập trung của Lithium trong máu, trong khoảng cho phép từ 0,5-1,2 mEq/lít.

– Carbamazepin (Tegretol): Hiệu quả điều trị của Carbamazepin xảy ra nhanh hơn so với Lithium và trong khoảng 3 ngày, được ưu tiên sử dụng trong trường hợp bệnh hưng trầm cảm có chu kỳ ngắn kết hợp với một thuốc an thần kinh lúc khởi đầu điều trị. Cần chú ý theo dõi lâm sàng chặt chẽ để đề phòng dị ứng. Liều dùng: 200-800 mg/ngày.

– Valpromide (Depamide): Depamide là chế phẩm của acide dipropylacetique (Depakin) đã được sử dụng trong điều chỉnh các rối loạn khí sắc của bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực từ 1965.

– Thuốc có tác dụng:

. Làm ổn định cảm xúc.

. Yên dịu và tăng hiệu lực yên dịu của các thuốc hướng thần khác.

Được chỉ định:

– Depamid + An thần kinh ở giai đoạn cấp tính giảm nhanh tình trạng loạn thần và hưng cảm tâm lý vận động hơn là dùng an thần kinh đơn thuần.

– Dự phòng tái phát bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực giảm số cơn và thời gian kéo dài cơn.

. Giảm số lần tới nhập viện từ 60-80%.

. Giảm cường độ cơn (nếu cơn xuất hiện).

Liều lượng:

. Liều cao: 900-1200 mg

. Trung bình: 600-900 mg

. Liều thấp duy trì: 300-600 mg

>>>Xem thêm…: Chia sẻ kinh nghiệm cho người chăm sóc bệnh nhân trầm cảm

Sử dụng liều lượng thuốc tùy thuộc vào khả năng dung nạp của từng cá thể điều trị “đa trị liệu” thì liều cần ít hơn khi sử dụng “đơn trị liệu”. Thuốc chia làm 2 lần trong ngày 8 giờ sáng và 8 giờ tối.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng